Nguồn nước sạch sinh hoạt ( nước cấp của thành phố ) bạn đang dùng, liệu có thật sự sạch?
Nguồn nước sạch sinh hoạt ( nước cấp của thành phố ) bạn đang dùng, liệu có thật sự sạch?
Lây nay mọi người chỉ quan tâm đến nguồn nước cho ăn uống nhưng bạn cho rằng nguồn nước sinh hoạt nhà mình đang sử dụng có sạch như bạn nghĩ? Nước sinh hoạt được dùng hàng ngày liên tục và thiết yếu như: Đánh răng, rửa mặt, tắm rửa, giặt quần áo, rửa bát, vệ sinh sen vòi, nhà cửa, tưới cây,… Mọi người đều nghĩ nước sinh hoạt chỉ để tắm rửa ngoài ra nên nước có bẩn 1 chút cũng sẽ không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe. Hôm nay mình sẽ chia sẻ một số thông tin về thực trạng nguồn cấp thành phố và tác hại của nước chưa sạch ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào? Từ đó có thể giúp bạn và gia đình phòng ngừa một số nguyên nhân gây bệnh từ nguồn nước.

Đầu tiên là thực trạng nguồn nước cấp. Mình xin dẫn chứng một số bài báo, video của các báo , đài truyền hình vẫn thường xuyên đưa tin về nguồn nước sạch ở Hà Nội và các tình bị ô nhiễm để mọi người có thêm thông tin về nguồn nước nơi
https://www.youtube.com/watch?v=rIfnDutvxSE
https://vnexpress.net/hon-400-ho-dan-chung-cu-o-tp-hcm-phan-anh-nuoc-sinh-hoat-o-nhiem-4861436.html
Việt Nam có 37 làng ung thư thì 10 làng nguồn nước ô nhiễm nặng.
10 "làng ung thư" có nguồn nước ô nhiễm nặng nhất
1. Làng Thống Nhất, xã Đông Lỗ, H.Ứng Hòa, TP Hà Nội.
2. Làng Lũng Vỵ, xã Đông Phương Yên, H.Chương Mỹ, TP Hà Nội.
3. Làng Mẫn Xá, xã Văn Môn, H.Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
4. Làng Thổ Vỵ, xã Tế Thắng, H.Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
5. Làng Yên Lão, xã Hoàng Tây, H.Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
6. Làng Cờ Đỏ, xã Diễn Hải, H.Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
7. Làng An Lộc, xã An Lộc, H.Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
8. Làng Phước Thiện, xã Bình Hải, H.Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
9. Làng Xuân Vinh, xã Hoài Mỹ, H.Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
10. Làng Mê Pu, xã Mê Pu, H.Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Nguồn: Dự án "Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số "làng ung thư" của VN".
Những dẫn chứng này cho thấy: nguồn nước cấp, dù đã qua xử lý, vẫn có nguy cơ bị ô nhiễm trong quá trình truyền dẫn, lưu trữ hoặc sử dụng. https://capnuoccantho2.com.vn/View.aspx?wc=82&wp=126

Gia đình chị Quế và nhiều hộ dân tại thôn Lũng Vị, xã Đông Phương Yên (huyện Chương Mỹ, Hà Nội) phải sử dụng nguồn nước ô nhiễm
Nước là tài nguyên quý giá và cần thiết trong cuộc sống của con người. Chính vì vậy, chất lượng nguồn nước sẽ tác động rất lớn đến sức khỏe. Nếu thường xuyên sử dụng nguồn nước không đảm bảo sẽ khiến cơ thể nhiễm nhiều chất độc hại là nguyên nhân chính gây các bệnh về đường tiêu hóa, ung thư và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
Ô nhiễm nước là sự vượt quá tiêu chuẩn cho phép của một số thành phần trong nước dẫn đến chất lượng nước không đáp ứng được các mục đích sử dụng khác nhau ảnh hưởng xấu đến đời sống của con người và sinh vật.
Nhiều loại vi khuẩn, vi rút sinh sống và phát triển trong nguồn nước nhiễm bẩn từ đó lây truyền dịch bệnh cho người và động vật.
Có 7 dấu hiệu người dân có thể nhận biết nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm, đó là:
– Nguồn nước có mùi tanh, hôi, thậm chí khai, nước có các màu như vàng nhẹ, nâu đỏ, đục… Đây là dấu hiệu cơ bản nhất cho thấy nguồn nước này đã bị ô nhiễm sắt, phèn và một số tạp chất, kim loại nặng khác.
– Nước bốc mùi nặng khiến người dùng khó thở, gây hiện tượng buồn nôn. Đây là du hiệu cơ bản cho thấy nguồn nước bị nhiễm phenol, clo ở mức độ nặng.
– Nước có mùi thum thủm như mùi trứng thối là do nước nhiễm hợp chất H2S. (Hydro sulfua )
– Nước nhiễm amoni khiến thực phẩm (các loại thịt) sau khi luộc có màu hồng như chưachín.
– Nước mùi clo nồng nặc, hiện tượng này diễn ra chủ yếu ở nước máy, nếu sử dụng gây cảm giác khó chịu, nếu hàm lượng vượt quá mức cho phép gây ra nhiều bệnh vệ hô hấp, ảnh hưởng đến da, tóc…
– Nước đun sôi kết tủa cặn trắng dưới đáy nồi, bám thành từng mảng trong các dụng cụ chứa nước, các thiết bị vệ sinh. Đây là dấu hiệu cơ bản của nguồn nước nhiễm cứng, hay chứa hàm lượng độ cứng Ca, Mg cao vượt mức.
– Hiện tượng nước bám mảng bám màu đen trong các dụng cụ chứa, bồn rửa mặt do nhiễm mangan…
Tuy nhiên, để biết chính các mức độ ô nhiễm và xác định rõ nguồn có chứa thành phần độc hại không màu, không mùi hay không (tiêu biểu như asen,) thì cần áp dụng các biện pháp công nghệ cao cấp và cần phải xét nghiệm chất lượng nước tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới đảm bảo cho kết quả chính xác.
Nguồn nước ô nhiễm là nguyên nhân gây nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm


Theo WHO, khoảng 80% bệnh tật có liên quan tới chất lượng nước và tình trạng vệ sinh môi trường, nhiều loại vi khuẩn, vi rút sinh sống và phát triển trong nguồn nước nhiễm bẩn từ đó lây truyền dịch bệnh cho người và động vật. Hiện tại, 5/10 bệnh truyền nhiễm gây dịch có tỷ lệ mắc cao nhất liên quan đến nước và vệ sinh là cúm, tiêu chảy, lỵ trực trùng, lỵ amip, viêm gan A. Các nhóm bệnh do vi sinh vật khác như do virus (bại liệt, viêm gan A, rotavirus, các enterovirus), ký sinh trùng (giun sán), đơn bào (Entamoeba historitica, Cryptosporidium pavum…); Bệnh ngoài da như ghẻ lở, hắc lào, tay chân miệng, bệnh đau mắt đỏ, bệnh phụ khoa và tiềm ẩn các nguy cơ gây ung thư.
Mỗi năm có khoảng 1 triệu ca mắc tiêu chảy, 40.000 – 50.000 lượt bị lỵ trực khuẩn, thương hàn… Đặc biệt, bệnh tay chân miệng có nguy cơ bùng phát tại nhiều địa phương. Bệnh giun sán cao dao động trong khoảng 50 -90% dân số. Tỷ lệ nhiễm giun đũa, tóc cao ở học sinh tiểu học. Các bệnh do muỗi truyền như SXH, sốt rét. Các bệnh do các trung gian khác như sán lá gan, bệnh sán lá phổi…
Ngoài ra, việc chung sống với nguồn nước ô nhiễm có thể coi như đang sống chung với tử thần khi tiềm ẩn nguy cơ gây ra các bệnh không do vi sinh vật, như:
Nước nhiễm sắt và mangan có thể gây biến màu thức ăn, làm hoen ố quần áo. Độc tính của sắt có thể ảnh hưởng đến gan, thận và hệ thống tim mạch, thần kinh.
Sử dụng nước có kim loại nặng nội tạng sẽ bị ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng. Sỏi dễ hình thành trong thận, mật, tổn thương dạ dày, nôn mửa, tiêu chảy và mất sức, có nguy cơ cao dẫn đến xơ gan, đặc biệt là gây ung thư và đột biến…
Hệ thần kinh trung ương bị nhiễm độc, tuỷ xương bị rối loạn hoạt động, gây tai biến não, cao huyết áp đối với những người sử dụng nguồn nước nhiễm chì để ăn uống.
Sử dụng nước có lượng natri vượt quá mức cho phép sẽ khiến tỷ lệ mắc bệnh tim mạch, huyết áp tăng cao.
Dùng nước nhiễm Amoni, Nitrat, Nitrit trong thời gian dài ở nồng độ cao gây bệnh xanh da, thiếu máu, có thể gây ung thư gan, phổi và dạ dày; nhiễm lưu huỳnh gây bệnh về đường tiêu hoá…
Crom khiến thận bị viêm, ung thư phổi và viêm gan.
Mangan khiến thận, hệ thống tuần hoàn bị thương tổn, thậm chí tử vong nếu ngộ độc nặng.
Thuốc bảo vệ thực vật gây ra tình trạng nhiễm độc gan.
Xương bị ảnh hưởng xấu bởi nước nhiễm kali hoặc cadimi.
Chất cực độc là asen. Asen là nguyên nhân gây ra 20 bệnh khác nhau trong đó phần lớn là các bệnh nguy hiểm đến tính mạng. Sử dụng nước nhiễm asen là cơ hội để các tế bào ung thư xuất hiện và phát triển: ung thư da, bang quang, phổi, bệnh bowen…
Ngoài ra nguồn nước sinh hoạt bị nhiễm bẩn còn gây tắc nghẽn đường ống sen vòi, thiết bị đun nóng ( bình nóng lạnh, Heatpump, nhà tắm thiết bị vệ sinh, chậu rửa bát bị hoen ố gây mất thẩm mỹ,…
Làm thế nào để hạn chế bệnh tật phát sinh do nguồn nước không đảm bảo
Theo các chuyên gia y tế, người dân sinh sống quanh khu vực có nguồn nước ô nhiễm có tỉ lệ mắc những bệnh tiêu biểu kể trên ngày một gia tăng hơn, thậm chí tại Việt Nam đã ghi nhận nhiều trường hợp một làng hoặc một cụm dân cư cùng mắc các bệnh giống nhau do sử dụng chung nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm. Bên cạnh việc gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, nguồn nước bị ô nhiễm cũng gây cản trở cho quá trình sinh hoạt và gây thiệt hại lớn về kinh tế.
Để hạn chế bệnh tật phát sinh do nguồn nước không đảm bảo, người dân nên sử dụng nước sạch cho mục đích sinh hoạt. Thông thường, nguồn nước máy do các đơn vị cấp nước đã qua các biện pháp xử lý nhằm đảm bảo chất lượng nước cung cấp cho nhân dân. Tuy nhiên, trong quá trình lưu trữ, sử dụng nguồn nước có thể nhiễm vi khuẩn, vi sinh từ đường ống dẫn nước, bể chứa nước của gia đình lâu năm không vệ sinh, dẫn đến bạn sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm. Để hạn chế ô nhiễm nguồn nước, cần thường xuyên vệ sinh thiết bị chứa nước định kì 3-6 tháng/lần. Ví dụ: thau rửa bể chứa, téc nước, sục rửa đường ống; kiểm tra các vết nứt tại bể ngầm vì đây là nguồn gây ô nhiễm đáng kể. Bên cạnh đó, tại các hộ gia đình có thể lắp thêm hệ thống lọc nước tổng đầu nguồn.

Đối với các khu vực chưa có nước máy, ngoài việc tự xử lý nguồn nước thông qua các hệ thống lọc, người dân cũng nên kiểm nghiệm nước định kì để đảm bảo chất lượng nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt.
Bên cạnh đó, mỗi người cần tăng cường ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, không nên vứt rác bừa bãi nhất là ra ao, hồ, sông, suối, nên thu gom và phân loại rác thải. Thường xuyên vệ sinh nhà ở, vệ sinh chuồng trại, khu dân cư, thu gom và xử lý phân, nước tiểu, diệt ruồi, muỗi, gián, chuột ở nhà cũng như nơi công cộng; Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn uống, sau khi đi vệ sinh, thường xuyên vệ sinh cá nhân. Đây là một việc làm đơn giản nhưng nếu người dân thực hiện một cách nghiêm túc cũng góp phần bảo vệ nguồn nước và phòng chống các bệnh do ô nhiễm nguồn nước.
( Trích dẫn theo Lê Lành- Trung tâm kiểm soát bệnh tật Ninh Bình)
https://cdc.ninhbinh.gov.vn/tin-tuc-su-kien/nhung-benh-dich-phat-sinh-tu-nguon-nuoc-bi-o-nhiem.html#:~:text=M%E1%BB%97i%20n%C4%83m%20c%C3%B3%20kho%E1%BA%A3ng%201%20tri%E1%BB%87u%20ca,tay%20ch%C3%A2n%20mi%E1%BB%87ng%20c%C3%B3%20nguy%20c%C6%A1%20b%C3%B9ng